Tổng truy cập:125563
 Đang Online22
Quy chế về tổ chức đào tạo, kiểm tra, thi kết thúc học phần áp dụng cho các lớp Đào tạo liên kết Quốc tế (08/11/2012)
 

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỆN LỰC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

      Trung tâm ĐT&HTQT

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

 

 

 

                                                                                  QUY CHẾ

                                   VỀ TỔ CHỨC ĐÀO TẠO, KIỂM TRA, THI KẾT THÚC HỌC PHẦN

                         ÁP DỤNG CHO CÁC LỚP ĐÀO TẠO LIÊN KẾT QUỐC TẾ

 

 

                                                      CHƯƠNG I: TỔ CHỨC ĐÀO TẠO

 

Điều 1: Thời gian và kế hoạch đào tạo

1. Khoá học liên kết đào tạo quốc tế tổ chức đào tạo theo khoá học và năm học.

Khoá học là thời gian được thiết kế để sinh viên hoàn thành chương trình đào tạo của một ngành chuyên môn cụ thể. Một khoá học liên kết đào tạo quốc tế là 3 năm đối với Cao đẳng Việt Úc và 1 năm đối với đại học Việt Trung (đào tạo tại Việt Nam).

Một năm học có 2 học kỳ chính, mỗi học kỳ chính có ít nhất 15 tuần thực học và 1-3 tuần thi. Ngoài hai học kỳ chính, Hiệu trưởng xem xét quyết định tổ chức thêm một học kỳ hè để sinh viên có các học phần bị đánh giá không đạt ở các học kỳ chính được học lại và để sinh viên học giỏi có điều kiện học vượt kết thúc sớm chương trình học tập. Mỗi học kỳ hè có ít nhất 5 tuần thực học và một tuần thi, kiểm tra.

2. Căn cứ vào khối lượng kiến thức tối thiểu cho các trình độ đào tạo, Nhà trường phân bổ số đơn vị học trình cho các năm học, các học kỳ.

Đầu khoá học, Nhà trường phải thông báo cho sinh viên về kế hoạch học tập, lịch trình, chương trình đào tạo toàn khoá của các ngành đào tạo, về quy chế học tập, kiểm tra, thi, đánh giá, xếp loại học tập và công nhận tốt nghiệp, về nghĩa vụ và quyền lợi của sinh viên.

Đầu mỗi năm học, Nhà trường phải thông báo lịch học trong từng học kỳ, đề cương chi tiết của các học phần, điều kiện để được học tiếp, lịch kiểm tra và thi, hình thức kiểm tra và thi các học phần.

Điều 2: Điều kiện để được học tiếp, ngừng học hoặc thôi học

Cuối mỗi kỳ học, Nhà trường căn cứ vào số học phần đã học và điểm trung bình học tập mỗi môn của kỳ học đó để xét việc học tiếp, phải ngừng học hoặc thôi học của sinh viên.

1. Sinh viên được học tiếp lên kỳ học sau:

1.1. Được tiếp tục học chính quy nếu có đủ các điều kiện dưới đây:

- Có điểm trung bình chung học tập của kỳ học đó từ 5,00 trở lên. Riêng đối với Ngoại ngữ phải có điểm trung bình mỗi kĩ năng Ngoại ngữ của kỳ học đó từ 5,00 trở lên.

- Số đơn vị học trình của các học phần bị điểm dưới 5,00 (không gồm đơn vị học trình môn Ngoại ngữ) không quá 25% tổng số đơn vị học trình qui định cho năm học đó.

Những học phần bị điểm dưới 5,00 sinh viên phải trả nợ ở các kỳ thi tiếp theo. Sinh viên phải chủ động đăng ký học lại những học phần bị điểm dưới 5,00.

1.2. Được tiếp tục học hệ dự bị nếu có đủ các điều kiện dưới đây:

- Có điểm trung bình chung học tập của kỳ học dưới 5,00. Có điểm trung bình của một trong những kĩ năng Ngoại ngữ của kỳ học đó dưới 5,00.

- Sinh viên được học hệ dự bị tối đa là 01 lần cho toàn khoá học đối với chương trình đào tạo 3 năm (cao đẳng Việt Úc).

2. Sinh viên phải thôi học nếu bị rơi vào một trong các trường hợp sau:

- Sau kỳ học dự bị, có điểm trung bình chung học tập của kỳ học dưới 5,00. Có điểm trung bình của một trong những kĩ năng Ngoại ngữ của kỳ học đó dưới 5,00.

Sinh viên thuộc diện thôi học được Nhà trường thông báo trả về địa phương nơi sinh viên có hộ khẩu thường trú. Nhà trường có trách nhiệm thông báo về địa phương và gia đình sinh viên biết chậm nhất 1 tháng sau khi có quyết định cho thôi học.

3. Sinh viên được quyền gửi đơn tới Nhà trường xin nghỉ học tạm thời và bảo lưu kết quả học tập đã học trong các trường hợp sau:

- Được động viên vào lực lượng vũ trang;

- Bị ốm hoặc bị tai nạn buộc phải điều trị thời gian dài có giấy xác nhận của cơ quan y tế;

- Vì nhu cầu cá nhân. Trường hợp này, sinh viên phải học ít nhất một học kỳ ở Nhà trường và phải đạt điểm trung bình chung các học phần tính từ đầu khoá học không dưới 5,00. Thời gian nghỉ học tạm thời vì nhu cầu cá nhân phải được tính vào thời gian học chính thức quy định như sau:

3. Sinh viên không thuộc diện qui định tại khoản 1 và 2 của Điều này được ngừng học để có thời gian củng cố kiến thức và thi trả nợ những học phần           chưa đạt.

Sinh viên ngừng học tối đa không quá một năm cho toàn khoá học đối với các ngành có thời gian đào tạo từ 3 năm.

4. Trong thời gian ngừng học, sinh viên phải lên lớp học lại các học phần chưa đạt. Nhà trường xem xét có thể bố trí cho các sinh viên này học một số học phần của năm học tiếp theo.

5. Sinh viên bị buộc thôi học nếu rơi vào một trong các trường hợp sau:

a) Có điểm trung bình học tập của năm học dưới 3,50;

b) Có điểm trung bình chung tất cả các học phần tính từ đầu khoá học dưới 4,00 sau hai năm học; dưới 4,50 sau 3 năm học và dưới 4,80 sau từ 4 năm học trở lên;

 (đối với cao đẳng Việt Úc);

c) Đã hết thời gian tối đa được phép học tại Nhà trường theo quy định tại khoản 3 Điều 4 của Quy chế này.

d) Bị kỷ luật lần thứ hai vì lý do đi thi hộ hoặc nhờ người thi hộ theo quy đinh tại khoản 2 Điều 19 của Quy chế này;

Chậm nhất là một tháng sau khi sinh viên có quyết định buộc thôi học,trường phải thông báo trả về địa phương nơi sinh viên có hộ khẩu thường trú. Trường hợp tại trường có các chương trình ở các trình độ thấp hơn hoặc có các chương trình giáo dục thường xuyên tương ứng thì những sinh viên thuộc các diện quy định tại các điểm a, b và c khoản này được quyền xin xét chuyển qua các chương trình đó và được bảo lưu một phần kết quả học tập ở chương trình cũ khi học ở các chương trình mới này. Hiệu trưởng quyết định kết quả học tập được bảo lưu cho từng trường hợp cụ thể.

 

CHƯƠNG II: KIỂM TRA VÀ THI HỌC PHẦN

Điều 3: Kiểm tra thường kỳ và thi kết thúc học phần

1. Các học phần chỉ có lý thuyết

a. Điểm kiểm tra thường xuyên: tùy vào điều kiện, đặc điểm của từng môn, giảng viên phải tổ chức kiểm tra, giảng viên quyết định kiểm tra theo hình thức viết, vấn đáp hoặc làm bài tập. Giảng viên có thể kiểm tra hàng tuần hoặc            cách tuần.

a. Kiểm tra thường kỳ (hàng tháng): sau mỗi đơn vị học trình, giảng viên phải tổ chức kiểm tra. Tuỳ theo điều kiện, giảng viên quyết định kiểm tra theo hình thức viết, vấn đáp hoặc làm bài tập.

b. Thi giữa học phần: sau ít nhất nửa số thời gian thực học, sinh viên được dự thi giữa học phần.

c. Thi kết thúc học phần: Sinh viên được dự thi kết thúc học phần khi có đủ các điều kiện sau:

- Có mặt ở lớp từ 70% trở lên thời gian quy định cho học

- Sinh viên phải dự đủ số lần kiểm tra theo qui định cho mỗi học phần và ít nhất có 50% số lần kiểm tra đạt yêu cầu. Đối với học phần có 1 lần kiểm tra thì kết quả phải từ 5,00 điểm trở lên.

Điểm tổng hợp đánh giá kết quả học tập của học phần lý thuyết (gọi tắt điểm học phần) bao gồm: điểm bài kiểm tra thường xuyên, điểm bài kiểm tra thường kì trong quá trình học tập, điểm đánh giá nhận thức và thái độ tham gia thảo luận, điểm chuyên cần, điểm thi giữa học phần, điểm tiểu luận và điểm thi kết thúc học phần, trong đó điểm thi kết thúc học phần là bắt buộc và phải có trọng số không dưới 50% của điểm học phần.

Việc lựa chọn hình thức đánh giá bộ phận và trọng số của các điểm đánh giá bộ phận cũng như cách tính điểm tổng hợp đánh giá học phần do giảng viên đề xuất, được Nhà trường phê duyệt và phải được quy định trong đề cương chi tiết của học phần. 

2. Các học phần chỉ có thực hành

Sinh viên phải tham dự đầy đủ thời gian qui định cho học phần thực hành. Việc kiểm tra được thực hiện sau mỗi bài thực tập. Điểm trung bình cộng của các bài thực tập trong học kỳ và điểm thi kết thúc học phần thực hành.Trung bình cộng của các bài thực hành trong học kỳ này được làm tròn đến phần nguyên là điểm học phần loại này.

Nhà trường qui định cụ thể cách đánh giá các học phần thực hành của khóa học.

3. Các học phần có cả thực hành và lý thuyết

a. Phần thực hành: Sinh viên phải tham dự đầy đủ số giờ qui định cho phần thực hành và làm các bài thực hành, bài tập hay tiểu luận thay cho kiểm tra thường kỳ. Sinh viên hoàn thành đầy đủ các bài thực hành, bài tập hoặc các tiểu luận theo qui định và được đánh giá là đạt phần thực hành thì đủ điều kiện để được xét dự thi phần lý thuyết.

b. Phần lý thuyết: Việc kiểm tra thường kỳ phần lý thuyết, điều kiện dự thi kết thúc phần lý thuyết được thực hiện như qui định đối với các học phần chỉ có lý thuyết nêu tại khoản 1 Điều này. Điểm thi phần lý thuyết là điểm thi kết thúc học phần.

4. Giảng viên trực tiếp ra đề thi, đề kiểm tra và cho điểm đánh giá bộ phận trừ bài thi kết thúc học phần.

Điều 4: Tổ chức các kỳ thi kết thúc học phần

Cuối mỗi học kỳ, Nhà trường tổ chức một kỳ thi chính và một kỳ thi phụ để thi kết thúc học phần. Kỳ thi phụ được tổ chức sớm nhất là 4 tuần sau kỳ thi chính.

Thời gian dành cho ôn thi mỗi học phần tỷ lệ thuận với số đơn vị học trình của học phần đó và khoảng nửa ngày cho mỗi đơn vị học trình. Nhà trường qui định thời gian thi cho các kỳ thi.

Không tổ chức thi ngoài các kỳ thi đã thông báo vào đầu năm học.

Điều 5: Ra đề thi, hình thức thi, chấm thi, số lần được dự thi kết thúc học phần

1. Đề thi do chính giảng viên dạy học phần đó hoặc do những giảng viên có cùng chuyên môn chuẩn bị, hoặc lấy từ ngân hàng đề thi. Đề thi, đáp án và thang điểm phải được Trưởng Bộ môn duyệt. Đề thi phải phù hợp với nội dung học phần đã qui định trong chương trình.

2. Hình thức thi kết thúc học phần có thể là viết (trắc nghiệm hoặc tự luận), vấn đáp, làm thực tập hoặc kết hợp giữa các hình thức trên. Nhà trường hoặc người được Nhà trường uỷ quyền duyệt các hình thức thi thích hợp cho từng học phần.

3. Việc chấm thi kết thúc phần lý thuyết (ở học phần có cả lý thuyết và thực hành) và các học phần chỉ có lý thuyết phải do hai giảng viên đảm nhiệm.

Nhà trường qui định việc bảo quản các bài thi, qui trình chấm thi và lưu giữ các bài thi sau khi chấm. Thời gian lưu giữ các bài thi viết sau khi chấm ít nhất là 1 năm.

4. Điểm thi vấn đáp, thi thực hành, phải công bố ngay sau mỗi buổi thi khi hai giảng viên chấm thi thống nhất được điểm chấm. Trong trường hợp không thống nhất thì các giảng viên chấm thi trình Trung tâm CICT và Nhà trường quyết định. Điểm thi viết phải được công bố chậm nhất 7 ngày sau khi thi.

Các điểm thi phải ghi vào bảng điểm theo mẫu thống nhất của Nhà trường. Bảng điểm thi phải có chữ ký của hai giảng viên chấm thi, có xác nhận của Trưởng Bộ môn và phải được gửi về Văn phòng Trung tâm CICT chậm nhất 7 ngày sau khi thi.

Kết quả thi phải được thông báo công khai sau mỗi kỳ thi và ghi vào sổ điểm của sinh viên.

5. Sinh viên không đủ điều kiện dự thi kết thúc học phần do vắng mặt trên lớp quá mức qui định và sinh viên vắng thi không có lý do chính đáng coi như đã dự thi 1 lần và phải nhận điểm 0.

Sinh viên vắng mặt trên lớp quá mức qui định phải đăng ký học lại học phần đó. Sinh viên này sau khi được Trưởng Khoa hoặc Trưởng Phòng Đào tạo xác nhận đủ điều kiện dự thi và sinh viên vắng thi không có lý do chính đáng được dự thi 1 lần ở kỳ thi phụ sau đó.

6. Sinh viên có mặt trên lớp theo qui định nhưng có số điểm kiểm tra thường kỳ không đạt theo qui định tại Điều 2 của Qui chế này phải dự kiểm tra lại nếu đạt mới được dự thi. Sinh viên này và sinh viên vắng mặt có lý do chính đáng ở kỳ thi chính nếu được Trưởng Khoa hoặc Trưởng Phòng Đào tạo đề nghị, được dự thi ở kỳ thi phụ sau đó và được coi là thi lần đầu.

7. Đối với mỗi học phần, sinh viên được dự thi một lần trong một kỳ thi và được thi lại một lần cho những học phần có điểm dưới 5 theo lịch thi lại do Nhà trường qui định.

8. Trong trường hợp cả hai kỳ thi chính và phụ mà điểm học phần vẫn dưới 5,00 thì sinh viên phải đăng ký học lại học phần này với số lần được dự thi theo quy định như đối với một học phần mới.

Điều 6: Cách tính điểm kiểm tra, thi và xếp loại kết quả học tập

1. Điểm kiểm tra thường kỳ, điểm thi kết thúc học phần được chấm theo thang điểm từ 0 đến 10, làm tròn đến phần nguyên.

2. Điểm trung bình chung học tập của mỗi học kỳ, mỗi năm học, hoặc mỗi khoá học được tính theo công thức sau: 

Trong đó:

A là điểm trung bình chung học tập

ai là điểm thi kết thúc của học phần thứ i

ni là số đơn vị học trình của học phần thứ i

N là tổng số học phần

- Điểm trung bình chung học tập để xét phân loại kết quả học tập của khoá học, xét tốt nghiệp, xét học tiếp, ngừng học hay thôi học được tính theo điểm trung bình của các học phần

- Điểm kiểm tra, điểm thi kết thúc học phần chỉ lấy số nguyên.

- Điểm trung bình chung học tập được tính đến hai chữ số thập phân.

3. Các điểm trung bình chung học tập để xét thôi học, ngừng tiến độ học, được học tiếp, để xét tốt nghiệp và điểm trung bình chung các học phần tính từ đầu khóa học được tính theo điểm cao nhất trong các lần thi.

4. Xếp loại kết quả học tập:

a. Loại đạt Từ 9 đến 10: Xuất sắc

Từ 8 đến cận 9: Giỏi

Từ 7 đến cận 8: Khá

Từ 6 đến cận 7: Trung bình khá

Từ 5 đến cận 6: Trung bình

b. Loại không đạt Từ 4 đến cận 5: Yếu

Dưới 4: Kém

                                                              CHƯƠNG III

                              THI TỐT NGHIỆP VÀ CÔNG NHẬN TỐT NGHIỆP

 

Điều 7. Thực tập cuối khóa, làm đồ án, khoá luận tốt nghiệp hoặc thi tốt nghiệp

1. Năm học cuối khoá, các sinh viên được đăng ký làm đồ án, khoá luận tốt nghiệp hoặc thi tốt nghiệp khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp và thi tốt nghiệp các môn khoa học Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh được quy định như sau:

a) Làm đồ án, khoá luận tốt nghiệp áp dụng cho sinh viên đại học đạt mức quy định của trường. Đồ án, khoá luận tốt nghiệp là học phần có khối lượng không quá 20 đơn vị học trình. Hiệu trưởng quy định khối lượng cụ thể phù hợp với yêu cầu đào tạo của trường.

Điều 8. Thực tập cuối khoá và điều kiện xét tốt nghiệp của các ngành đào tạo đặc thù

Đối với một số ngành đào tạo đặc thù thuộc các lĩnh vực như nghệ thuật, kiến trúc, y tế, thể dục thể thao... Hiệu trưởng quy định nội dung, hình thức thực tập cuối khoá, hình thức bảo vệ, chấm đồ án, khoá luận tốt nghiệp, thi tốt nghiệp khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp, điều kiện xét và công nhận tốt nghiệp phù hợp với đặc điểm các chương trình của trường.

Điều 9. Điều kiện xét tốt nghiệp và công nhận tốt nghiệp

1. Những sinh viên có đủ các điều kiện sau thì được xét tốt nghiệp:

a) Cho đến thời điểm xét tốt nghiệp, sinh viên không đang trong thời gian bị truy cứu trách nhiệm hình sự;

b) Tích lũy đủ số học phần quy định cho chương trình, không còn học phần bị điểm dưới 5;

2. Căn cứ đề nghị của Hội đồng xét tốt nghiệp, Hiệu trưởng ký quyết định công nhận tốt nghiệp cho những sinh viên đủ các điều kiện theo quy định. Hội đồng xét tốt nghiệp do Hiệu trưởng hoặc Phó Hiệu trưởng được Hiệu trưởng uỷ quyền làm Chủ tịch, trưởng phòng đào tạo làm thư ký và có các thành
viên là các trưởng khoa chuyên môn và các thành viên khác do Hiệu trưởng quy định.

Điều 10. Cấp bằng tốt nghiệp, bảo lưu kết quả học tập và chuyển loại hình đào tạo

1. Bằng tốt nghiệp đại học, cao đẳng được cấp theo ngành đào tạo chính. Bằng chỉ được cấp cho sinh viên khi đã ghi đầy đủ, chính xác các nội dung trên tấm bằng theo quy định hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Xếp hạng tốt nghiệp được xác định theo điểm trung bình chung học tập của toàn khoá học quy định tại khoản 4 Điều 6 của Quy chế này.

2. Hạng tốt nghiệp của những sinh viên có kết quả học tập toàn khoá loại xuất sắc và giỏi sẽ bị giảm đi một mức nếu vi phạm vào một trong các trường hợp sau:

a) Có khối lượng của các học phần phải thi lại vượt quá 5% so với tổng số đơn vị học trình quy định cho toàn khoá học;

b) Đã bị kỷ luật trong thời gian học từ mức cảnh cáo trở lên.

3. Kết quả học tập của sinh viên phải được ghi vào bảng điểm của sinh viên theo từng học phần. Trong bảng điểm còn phải ghi chuyên ngành, hướng chuyên sâu hoặc ngành phụ nếu có.

4. Những sinh viên còn chưa hoàn thành đồ án, khoá luận tốt nghiệp, các môn thi tốt nghiệp nhưng Đã hết thời gian tối đa được phép học, trong thời hạn 3 năm tính từ ngày kết thúc khóa học, được trở về trường trả nợ để có đủ điều kiện xét tốt nghiệp cùng với sinh viên các khóa dưới.

5. Sinh viên không tốt nghiệp được cấp giấy chứng nhận về các học phần đã học trong chương trình của trường. Những sinh viên này nếu có nhu cầu, được quyền làm đơn xin phép chuyển qua các chương trình khác theo quy định tại khoản 5d Điều 2 của Quy chế này.   

                                      CHƯƠNG V

                                    XỬ LÝ VI PHẠM

Điều 1. Xử lý kỷ luật đối với sinh viên vi phạm các quy định về thi, kiểm tra

1. Trong khi kiểm tra thường xuyên, thi giữa học phần, thi kết thúc học phần, thi tốt nghiệp, bảo vệ đồ án, khoá luận (sau đây gọi tắt là thi, kiểm tra) nếu vi phạm quy chế, sinh viên sẽ bị xử lý kỷ luật đối với từng học phần đã vi phạm.

2. Sinh viên thi hộ hoặc nhờ người thi hộ đều bị kỷ luật ở mức đ́nh chỉ học tập 1 năm đối với trường hợp vi phạm lần thứ nhất và buộc thôi học đối với trường hợp vi phạm lần thứ hai.

3. Trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, mức độ sai phạm và khung xử lý kỷ luật đối với sinh viên vi phạm được thực hiện theo các quy định của Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy.

 

 

                                                                   P.GIÁM ĐỐC TRUNG TÂM

                                                                                   Hoàng Thị Kim Oanh

                                                                                              (Đã ký)

Tin mới
Đăng ký môn học trực tuyến